Thực hiện theo kế hoạch số 4628/KH-UBND ngày 17/11/2019 của UBND TP. Hồ Chí Minh về tổ chức Hội thảo “Các ngành công nghiệp thành phố – Vai trò và tiềm năng phát triển.”
CÁC NGÀNH CÔNG NGHIỆP THÀNH PHỐ - VAI TRÒ VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN
Trình bày: PGS. TS. Lê Hoài Quốc – Chủ tịch Hội Tự động hóa TP. Hồ Chí Minh (HAuA)
1. CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH: HÀNH TRÌNH PHÁT TRIỂN
Là trung tâm kinh tế trọng điểm phía Nam, TP. Hồ Chí Minh đã và đang giữ vai trò dẫn dắt tăng trưởng của cả nước. Từ năm 2000 đến nay, thành phố đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỷ trọng GDP từ nông-lâm-ngư nghiệp và công nghiệp-xây dựng, đồng thời tăng tỷ trọng dịch vụ. TP. Hồ Chí Minh đóng góp trung bình 28-30% tổng thu ngân sách cả nước, chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất công nghiệp toàn quốc, và là điểm đến hàng đầu cho vốn FDI.
4 ngành công nghiệp trọng điểm được thành phố xác định gồm: Cơ khí, chế biến lương thực - thực phẩm, hóa chất - nhựa - cao su, và điện tử - công nghệ thông tin. Tốc độ tăng trưởng bình quân của các ngành này đạt 14%/năm trong giai đoạn 2006-2010 và 8,8%/năm trong giai đoạn 2011-2015, vượt mức tăng trưởng trung bình của các ngành công nghiệp khác trên địa bàn.Tỷ trọng của 4 ngành này trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp TP. Hồ Chí Minh tăng từ 53% năm 2005 lên 61% năm 2010 và duy trì khoảng 60% vào năm 2016. Trong 6 tháng đầu năm 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của thành phố chủ yếu đến từ các ngành trọng điểm trên (theo Sở Công thương TP. HCM).
Bước vào giai đoạn hội nhập quốc tế và Cách mạng công nghiệp 4.0, TP. Hồ Chí Minh đã xác định các chiến lược dài hạn nhằm phát triển bền vững, hướng đến xây dựng đô thị thông minh và trung tâm kinh tế hiện đại. Kết luận số 21-KL/TW (24/10/2017) của Bộ Chính trị và Nghị quyết 54/2017/QH14 (24/11/2017) đã mở đường cho thành phố thực hiện những bước đi chiến lược này.
Đề án đô thị thông minh và phát triển khu đô thị sáng tạo phía Đông là một phần quan trọng trong kế hoạch dài hạn của thành phố, gắn với các dự án chiến lược như khu chế xuất, công viên phần mềm, trung tâm công nghệ sinh học, khu công nghệ cao quận 9… Đặc biệt, Khu công nghệ cao cùng hệ sinh thái khởi nghiệp, 12 trường đại học, 6 viện nghiên cứu thuộc ĐH Quốc gia TP. HCM và Trung tâm tài chính Thủ Thiêm sẽ là trụ cột quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo.
Những tín hiệu hiện tại
Theo Sở Công thương TP. Hồ Chí Minh, trong 10 tháng năm 2019, sản xuất công nghiệp trên địa bàn duy trì ổn định, nhưng tăng trưởng các ngành trọng điểm lại ở mức thấp. Cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 5,7% so với cùng kỳ 2018, thấp hơn mức tăng bình quân toàn ngành (7,3%). Ngành chế biến lương thực, thực phẩm, đồ uống chỉ tăng 0,8%; hóa dược tăng 0,9%.
Một số ngành ghi nhận mức sụt giảm đáng kể: chế biến gỗ và sản phẩm từ gỗ, tre, nứa giảm 26,5%; dịch vụ hỗ trợ khai thác giảm 18,9%. Nguyên nhân được các sở, ngành chỉ ra là do doanh nghiệp lớn đang dần chuyển nhà máy sang các tỉnh lân cận có ưu đãi tốt hơn về chi phí và chính sách.
Tuy vậy, vẫn có những điểm sáng: ngành điện tử tăng 21,6%; cơ khí tăng 7,7%. Ngoài ra, các mặt hàng xuất khẩu quan trọng như điện tử, linh kiện, điện thoại, dệt may, giày dép, gỗ… vẫn ghi nhận tăng trưởng đáng kể.
2. PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM: CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC
Cơ hội
Theo đánh giá từ nhiều chuyên gia trong và ngoài nước, ngành công nghiệp Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực chế biến và chế tạo, đang có nhiều tiềm năng phát triển mạnh mẽ trong tương lai gần. Nguyên nhân là bởi Việt Nam đang dần khẳng định vai trò ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu của các tập đoàn công nghiệp đa quốc gia.
Trong bối cảnh sản xuất công nghiệp toàn cầu, các tập đoàn lớn luôn đóng vai trò kiểm soát chuỗi giá trị toàn cầu. Họ quyết định sản xuất mặt hàng nào, số lượng bao nhiêu, ở đâu, vào thời điểm nào, với mức giá và tiêu chuẩn kỹ thuật nào, cũng như lựa chọn doanh nghiệp nào được tham gia vào chuỗi cung ứng này.
Chiến lược chung của các tập đoàn đa quốc gia là tập trung vào những khâu tạo ra giá trị gia tăng cao, bao gồm: nghiên cứu và phát triển (R&D), thiết kế, xây dựng thương hiệu, marketing, phân phối và dịch vụ hậu mãi. Những khâu có giá trị gia tăng thấp hơn, chẳng hạn như lắp ráp và sản xuất, thường được chuyển sang các quốc gia đang phát triển để tận dụng ưu thế về lao động giá rẻ và chính sách ưu đãi về thuế, đất đai.
Sự dịch chuyển chuỗi giá trị toàn cầu gần đây đã đưa Việt Nam trở thành một điểm đến sản xuất ngày càng quan trọng. Trong khi trước đây, các quốc gia Đông Á như Nhật Bản và Hàn Quốc thường ưu tiên chọn Trung Quốc và ASEAN làm cơ sở sản xuất để phục vụ xuất khẩu sang Mỹ và Nhật Bản, thì hiện nay, Trung Quốc đang dần chuyển mình thành thị trường tiêu thụ. Cùng với bối cảnh chiến tranh thương mại Mỹ - Trung kéo dài, Việt Nam nổi lên là lựa chọn thay thế hấp dẫn, trở thành trung tâm sản xuất phục vụ xuất khẩu sang Mỹ, Tây Âu, Nhật Bản và thậm chí là cả thị trường Trung Quốc.
Những căng thẳng thương mại diễn ra gần đây đã góp phần đẩy nhanh tốc độ dịch chuyển chuỗi giá trị toàn cầu, trong đó nhiều tập đoàn đa quốc gia đã chuyển một số khâu sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam. Chiến lược “Trung Quốc + 1” đang được nhiều doanh nghiệp quốc tế áp dụng, nhằm tìm kiếm điểm đến sản xuất ngoài Trung Quốc để giảm bớt rủi ro từ chi phí nhân công ngày càng tăng tại đây, đồng thời vẫn đảm bảo vị trí địa lý thuận lợi cho việc xuất khẩu trở lại Trung Quốc.
Với tiêu chí đó, cùng với việc Việt Nam đã ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng như CPTPP, EVFTA…, Việt Nam đang nổi lên là lựa chọn hàng đầu của các tập đoàn đa quốc gia, trở thành điểm đến ưu tiên trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thách thức
Trong thời gian gần đây, ngành công nghiệp Việt Nam dù đã có những bước tiến nhất định trong việc đầu tư đổi mới công nghệ, nhưng thực tế vẫn chủ yếu tập trung vào các hoạt động lắp ráp, gia công dựa trên nguyên vật liệu và bán thành phẩm nhập khẩu. Sản phẩm hoàn thiện chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản. Đây là một thực trạng phản ánh rõ ràng việc Việt Nam đang ở giai đoạn phụ thuộc vào chuỗi cung ứng toàn cầu, và quá trình tái cấu trúc ngành công nghiệp trong nước đòi hỏi thời gian cũng như định hướng đúng đắn.
Việc chuyển dịch và sắp xếp lại chuỗi giá trị ngành công nghiệp toàn cầu, cũng như tại Việt Nam, không thể hoàn thành trong thời gian ngắn nếu chúng ta không sớm nâng cao trình độ sản xuất và chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa.
Hiện nay, nhiều quốc gia đã tham gia toàn diện vào chuỗi giá trị toàn cầu, từ thiết kế, sản xuất linh kiện, lắp ráp cho đến phân phối, trong khi Việt Nam vẫn chỉ đóng vai trò ở những khâu giá trị thấp nhất như lắp ráp linh kiện nhập khẩu, phụ thuộc phần lớn vào các tập đoàn đa quốc gia. Vai trò của các doanh nghiệp trong nước trong hệ sinh thái công nghiệp vẫn còn hạn chế, chưa thực sự tạo được dấu ấn và giá trị gia tăng cao.
Bên cạnh đó, chi phí lao động tại Việt Nam đang gia tăng và sẽ sớm đạt ngưỡng không còn là lợi thế cạnh tranh chính. Khi các chính sách ưu đãi về thuế và đất đai hết hiệu lực, nếu các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ trong nước không phát triển để giảm giá thành, các tập đoàn đa quốc gia hoàn toàn có thể dịch chuyển sản xuất sang những quốc gia khác có điều kiện hấp dẫn hơn.
Nếu không kịp thời có những chính sách phù hợp, nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia sang hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước, đồng thời nhanh chóng hình thành những doanh nghiệp quy mô khu vực và quốc tế để dẫn dắt ngành công nghiệp, Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội bứt phá và đẩy mạnh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Tuy nhiên, triển vọng phát triển ngành công nghiệp Việt Nam vẫn rất rộng mở, với điều kiện cần có sự đồng thuận về chính sách, giải pháp kịp thời và phù hợp để tận dụng được cơ hội này.
3. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Nghị quyết 23-NQ/TW của Trung ương đã đặt ra các định hướng lớn cho phát triển công nghiệp dài hạn, bao gồm:
- Chính sách phân bố không gian và chuyển dịch cơ cấu ngành công nghiệp.
- Chính sách phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên.
- Chính sách tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển công nghiệp.
- Chính sách phát triển doanh nghiệp công nghiệp.
- Chính sách phát triển nguồn nhân lực công nghiệp.
- Chính sách khoa học và công nghệ cho phát triển công nghiệp.
- Chính sách khai thác tài nguyên, khoáng sản và chính sách bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu trong quá trình phát triển công nghiệp.
- Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong xây dựng và triển khai thực hiện chính sách phát triển công nghiệp quốc gia.
Đề xuất và hàm ý chính sách
Dựa trên các định hướng phát triển đã nêu, xin đề xuất một số giải pháp dành cho từng lĩnh vực công nghiệp trọng điểm của thành phố như sau:
Đối với ngành công nghiệp chế tạo, chế biến
- Đề nghị Chính phủ sớm ban hành Nghị định riêng về phát triển các ngành cơ khí trọng điểm, từ đó có chính sách hỗ trợ phù hợp cho các doanh nghiệp cơ khí, điện, điện tử theo quy định của Luật Đầu tư 2014.
- Thành phố cần xây dựng và ban hành các cơ chế khuyến khích nhằm thúc đẩy liên kết giữa các doanh nghiệp trong ngành, đặc biệt là thông qua các chương trình hỗ trợ đầu tư đổi mới công nghệ, tập trung vào tự động hóa, ứng dụng robot và trí tuệ nhân tạo trong quy trình sản xuất và quản lý.
Đối với ngành công nghiệp điện tử
- Kiến nghị Chính phủ sớm ban hành các biện pháp nhằm bảo vệ thị trường điện - điện tử tiêu dùng trong nước, chẳng hạn như áp thuế phòng vệ, hàng rào kỹ thuật, chống gian lận thương mại, hàng giả và hàng lậu. Đồng thời, cần tập trung hỗ trợ các doanh nghiệp tiềm năng trong lĩnh vực điện tử, MEMS để phát triển thành các đơn vị dẫn dắt thị trường, nhất là trong mảng sản phẩm điện - điện tử gia dụng.
- Thành phố cần phối hợp hỗ trợ Samsung tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP) trong việc xây dựng hệ thống nhà cung ứng nội địa, đặc biệt là các nhà cung ứng cấp 1, nhằm phục vụ chuỗi sản xuất của Samsung Electronics HCM Co. và toàn bộ tập đoàn Samsung toàn cầu.
Đối với ngành dệt - may, da - giày
- Thúc đẩy thu hút đầu tư vào lĩnh vực dệt nhuộm, đảm bảo ứng dụng công nghệ tiên tiến, thân thiện môi trường. Đồng thời, phát triển ngành da - giày và sản xuất nguyên phụ liệu thông qua việc hình thành các khu công nghiệp tập trung, đảm bảo xuất xứ sản phẩm trong nước, tận dụng tối đa các FTA như CPTPP, EVFTA đã ký kết.
Đối với ngành công nghiệp hỗ trợ
- Thành phố cần tập trung chỉ đạo triển khai hiệu quả Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ theo Quyết định số 68/QĐ-TTg ngày 18/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ, đồng thời hoàn thiện Chương trình phát triển công nghiệp hỗ trợ của TP.HCM, đẩy mạnh hỗ trợ sản phẩm công nghiệp hỗ trợ (CNHT) có hàm lượng công nghệ cao phù hợp nhu cầu thực tế.
- Xây dựng các Trung tâm hoặc Viện công nghệ công nghiệp (CNCN) theo mô hình KITECH (Hàn Quốc) để hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) theo quy định tại Điều 17 và Điều 19 Luật Hỗ trợ DNVVN. Các đơn vị này hoạt động tự chủ, cân đối tài chính theo mô hình đối tác công tư (PPP), xã hội hóa hoặc từ ngân sách Nhà nước, ưu tiên bố trí tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP) trong giai đoạn trung hạn 2016–2021 và 2021–2025.
- Các Trung tâm/Viện CNCN sẽ hỗ trợ nâng cao năng lực sản xuất, cung cấp dịch vụ kỹ thuật, đo lường, kiểm định, chứng nhận chất lượng, chế tạo thử nghiệm, kết nối khách hàng, tư vấn cải tiến và chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp CNHT.
- Đẩy mạnh hợp tác quốc tế nhằm mở rộng thị trường và nâng cao năng lực doanh nghiệp trong lĩnh vực CNHT.
Đối với các ngành công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn
- Thành phố cần chỉ đạo các sở, ngành chức năng tăng cường hỗ trợ nghiên cứu, phát triển sản phẩm máy móc, thiết bị cơ khí phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghệ cao. Đồng thời, cần triển khai các chương trình:
- Hỗ trợ doanh nghiệp cơ khí phục vụ nông nghiệp trong việc thu thập, phân tích thông tin thị trường, khảo sát nhu cầu tiêu thụ các loại máy nông nghiệp, so sánh năng lực cạnh tranh sản phẩm để tư vấn, đề xuất nghiên cứu, phát triển sản phẩm mới phù hợp.
- Tăng cường xúc tiến thương mại, hỗ trợ doanh nghiệp tham gia các triển lãm quốc tế về máy động lực và máy nông nghiệp, tổ chức tập huấn kỹ thuật sử dụng, sửa chữa và bảo quản máy móc, cùng các hội nghị thao diễn đầu bờ để giới thiệu sản phẩm.
Ngoài ra, cần khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đăng ký thành lập doanh nghiệp công nghệ cao (DN CNC) và thực hiện chính sách hậu kiểm nhằm khai thác hiệu quả nguồn lực xã hội trong đầu tư phát triển các lĩnh vực công nghệ cao đang hình thành trong CMCN 4.0, bao gồm:
- Lĩnh vực công nghệ số: Công nghệ điện toán mới, vi mạch - bán dẫn - MEMS, blockchain và các công nghệ sổ cái phân tán, Internet kết nối vạn vật (IoT & IIoT).
- Lĩnh vực vật chất: AI và robot, vật liệu tiên tiến, công nghệ sản xuất đắp dần - in ấn đa chiều, thiết bị bay không người lái.
- Lĩnh vực khoa học sự sống và công nghệ cải thiện con người: Công nghệ sinh học, công nghệ thần kinh, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR).
- Lĩnh vực môi trường: Thu hút, lưu trữ và chuyển đổi năng lượng, công nghệ can thiệp khí hậu, công nghệ không gian.
LỜI KẾT
Căng thẳng thương mại Mỹ - Trung đang tạo ra những tác động sâu rộng, làm thay đổi cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu và ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế Việt Nam. Quá trình này có thể sẽ kéo dài nhiều năm, đòi hỏi Việt Nam cần có những chính sách kịp thời, hợp lý để đón nhận làn sóng chuyển dịch, thúc đẩy nhanh quá trình lan tỏa công nghệ từ các tập đoàn đa quốc gia vào hệ sinh thái doanh nghiệp trong nước. Việc sớm hình thành các doanh nghiệp quy mô khu vực và quốc tế đóng vai trò dẫn dắt ngành công nghiệp là yêu cầu cấp bách trong bối cảnh hiện nay.
TP. Hồ Chí Minh, với vai trò là trung tâm kinh tế quan trọng nhất cả nước, cần đẩy mạnh các chính sách phát triển chuỗi giá trị gia tăng cao, bao gồm thiết kế, chế tạo, lắp ráp, phân phối và dịch vụ hậu mãi. Việc hình thành các trung tâm đổi mới sáng tạo và viện công nghệ công nghiệp (CNCN) sẽ là nền tảng quan trọng để tạo ra giá trị thực sự, giảm phụ thuộc vào sản xuất giá rẻ, và nâng cao năng lực cạnh tranh. Nếu không kịp thời phát triển ngành công nghiệp chế biến, chế tạo và công nghiệp hỗ trợ trong nước để giảm giá thành, khi các ưu đãi của Chính phủ hết hạn, các tập đoàn đa quốc gia có thể chuyển cơ sở sản xuất sang các quốc gia khác hấp dẫn hơn, gây tác động tiêu cực đến nền kinh tế.
Tuy vậy, triển vọng phát triển ngành công nghiệp Việt Nam vẫn rất lớn. Để tận dụng cơ hội này, cần có những chính sách đồng bộ, nhất quán và phù hợp với thực tiễn, giúp các doanh nghiệp nội địa vươn lên làm chủ công nghệ, nâng cao giá trị sản xuất, và từng bước khẳng định vai trò trong chuỗi cung ứng toàn cầu.


